Ông tổ nghề thêu [Truyện về Tiến sĩ Trần Quốc Khái]

Ông tổ nghề thêu

Truyện ông tổ nghề thêu

Ông tổ nghề thêu là câu chuyện ca ngợi tinh thần hiếu học, sự sáng tạo và công lao truyền dạy nghề cho dân của Trần Quốc Khái – vị quan thời Lê Chân Tông.

1. Trần Quốc Khái thời còn trẻ

Chuyện cũ kể rằng, hồi còn nhỏ tuổi, cậu bé Trần Quốc Khái vốn là một thiếu niên rất ham học. Cậu học ngay cả khi đi đốn củi, lúc kéo vó tôm [1]. Tối đến, nhà không có đèn dầu, cậu phải bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng để lấy ánh sáng đọc sách. Cậu Khái học đến đâu thuộc đến đấy và nổi tiếng hay chữ một vùng.

Năm 18 tuổi, Trần Quốc Khái bị lí dịch [2] trong làng bắt đi đắp đê sông Hồng. Vi sức yếu không vác nổi những hòn đất to nên bị phạt, phải chôn chân ở mặt đê từ sáng đến trưa. Giữa lúc đó, có một viên quan coi đê đi qua. Thấy khái mặt mũi khôi ngô, lại bị chôn chân, viên quan lấy làm lạ liền dừng lại hỏi:

– Nhà ngươi bị tội gì mà phải chôn chân?

Người thanh niên tên Khái lễ phép thưa:

– Tôi là học trò, sức yếu, không vác nổi những hòn đất to nên bị phạt.

Viên quan coi đê vốn cũng có chút vốn liếng chữ nghĩa, liền cười nói:

– Nếu ngươi là học trò, ta ra cho ngươi một vế đối [3]. Hễ đối được ta tha cho về.

Người thanh niên gật đầu xin vâng.

Viên quan nọ liền đọc:

– Ông quan thị, cắm đường cái tiêu, trị hồng thủy, cho dân được cậy.

Vế đối ra khá oái oăm, có tên bốn thứ quả: quả thị, quả chuối tiêu, quả hồng, quả cậy [4]. Người thanh niên Trần Quốc Khái ứng khẩu đối lại ngay:

– Trai Quýt Động, thi đỗ Bảng nhãn [5], phù quân vương, phỉ chí mới cam [6].

Vế đối lại cũng đủ bốn thứ quả: quả quýt, quả nhãn, quả bồ quân [7] và quả cam.

Nghe xong vế đối, viên quan gật đầu khen ngợi và cho về. Từ đấy, Trần Quốc Khái càng nổi tiếng là người hay chữ. Chẳng bao lâu gặp kì thi, Trần Quốc Khái lều chõng đi thi và đỗ Tiến sĩ. Thế là từ một cậu bé đốn củi, kéo vó tôm ở đất thôn quê, do ham học đã trở thành một vị Tiến sĩ, làm quan to trong triều đình nhà Lê. Người ta bảo “đất sỏi có trạch vàng” [8] cũng là nói nên hiện tượng tương tự như thế đấy.

2. Trần Quốc Khái đi sứ nhà Minh

Một lần ông Khái được triều đình nhà Lê cử đi sứ nhà MInh bên Trung Quốc. Trên đường đi sứ, để thử tài sứ bộ [9], bọn quan lại nhà Minh không cho đi đường chính mà lại dẫn theo đường tắt. Đến một vùng rừng núi và thung lũng thì hết lương ăn. Ông Trần Quốc Khái bèn cho chặt tre, đan thành những cái dậm, cái nhủi [10], rồi cho quân lính xuống suối kiếm cá và lên rừng kiếm trái cây để ăn. Nhờ vậy, qua hết quãng đường rừng, đoàn sứ bộ của ta vẫn khỏe mạnh và tiến thẳng đến kinh đô nhà Minh.

Sau khi có Khải vào chầu vua Minh và hoàn thành công việc ngoại giao, vua nhà Minh muốn thử tài trí thông minh của sứ thần Đại Việt. Một lần nữa bèn sai dựng một cái lầu cao chót vót, rồi mời Quốc Khái lên chơi. Khi ông lên đến lầu thì ở dưới đất, quân Minh bèn cất thang đi. Không còn lối xuống nữa, ông đành ở trên lầu một mình, xung quanh trời mây bao la, gió thổi hun hút. Ông đưa mắt nhìn quanh lầu, chỉ thấy có hai pho tượng sơn son thiếp vàng và một chum nước uống, cùng với hai cái lọng [11] cắm trước bàn thờ. Ngoài cửa lầu treo một bức trướng thêu nổi ba chữ “Phật tại tâm” nghĩa là Phật ở trong lòng mình. Trong góc lầu còn có hai cây tre tươi và một con dao.

Một ngày, rồi hai ngày trôi qua, chỉ có một mình trên lầu vắng, bụng đói mà cơm không có ăn, chỉ có một chum nước, ông nghĩ bụng: có nước uống tất phải có cái ăn. Ông quay ra ngoài ngắm bức trướng, rồi lẩm nhẩm: “Phật tại tâm”. Ông gật đầu cười, rồi bẻ tay pho tượng ra ăn thử xem sao. Thì ra hai pho tượng được nặn bằng bột chè lam [12]. Từ đó, ngày hai bữa, ông cứ ung dung bẻ dần hai pho tượng Phật để ăn.

Vốn là người hay làm, ngồi chơi không buồn quá, ông bèn chẻ tre ra vón đan lọng. Ông quan sát kỹ cách làm lọng và nhớ nhập tâm các chi tiết để ghép lọng. Ông lại dùng bọng tre để đun nước uống. Khi đã biết cách làm lọng rồi, ông lại đem bức trướng xuống, tháo các đường chỉ kim tuyến xem cách thêu. Với bàn tay khéo léo và lòng kiên trì, ông lại dùng số chỉ đó thêu vào. Lúc hoàn tất, ngắm nghía ông rất vui, vì nét chữ thêu giống hệt như cũ.

Nhờ cách ấy, mà ông tự học được cách thêu các đường nét nổi và cách làm lọng.

Ít lâu sau, khi ăn hết hai pho tượng và uống hết chum nước, ông loay hoay tìm đường để xuống. Những buổi chiều ngồi ngắm trời mây, thấy những con dơi xòe cánh chao đi chao lại như chiếc lá, ông nảy ra ý định nhảy xuống, và ông đã dừng mắt lại ở hai cái lọng cắm trên lầu. Cuối cùng, ông mạnh bạo ôm hai cái lọng nhảy xuống đất một cách bình an vô sự.

Trước tài trí ứng xử linh hoạt [13] của sứ thần Đại Việt, triều đình nhà Minh vô cùng kính phục. Vua Minh cho làm tiệc lớn để tiễn đưa đoàn bộ sứ của ta. Khi về nước, vì có nhiều công lao với nhà Lê nên ông được phong tước rất hậu, tặng Công bộ Thượng thư thái bảo, được đổi họ sang họ Lê, nên mới có một tên khác nữa là Lê Công Hành.

3. Ông tổ nghề thêu Việt Nam

Những năm cuối đời, Lê Công Hành tuy làm quan Thượng thư trong triều nhưng thường về quê hương để truyền dạy cho dân nghề thêu [14] và nghề làm lọng ở làng Quýt Động quê ông, cũng như các làng lân cận: Tam Xá, Võ Lăng, Hướng Dương, Đào Xá,… Dần dần, nghề thêu theo những người thợ vùng Thường Tín (Hà Nội) lan rộng ra khắp nơi. Để ghi nhớ công ơn của ông, người dân trong vùng đã lập đền thờ và tôn ông làm Ông tổ nghề thêu.

Truyện Ông tổ nghề thêu
Nguồn: Kể chuyện 4, trang 52, NXB Giáo dục – 1989
– TruyenDanGian.Com –

Truyện Ông tổ nghề thêu
Truyện Ông tổ nghề thêu

Chú giải trong câu chuyện Ông tổ nghề thêu

[1] Vó tôm : vó nhỏ thường nằm bằng vải màn, dùng để hớt tôm ở ven hồ, ven ao.
[2] Lí dịch: từ chỉ chung những người có chức, có quyền, phụ trách hành chính trong làng xã thời xưa.
[3] Vế đối: một vế của câu đối. Câu đối thường gồm hai vế đối nhau.
[4] Quả cậy: một thứ quả thuộc họ hồng, nhỏ hơn quả hồng, có nhựa dính, ngày xưa hay dùng để dán gáy sách và phết quạt nan giấy.
[5] Bảng nhãn: một học vị thời xưa, dưới học vị Trạng nguyên.
[6] Chữ cam: (từ Hán Việt) có nghĩa là chịu đựng, nhẫn nhục (trong cam chịu).
[7] Quả bồ quân: một thứ quả nhỏ hơn quả mận (không phải quả roi ở miền Nam cũng gọi là mận) màu đỏ sậm.
[8] Đất sỏi trạch vàng: (thành ngữ) chỉ sự kiên trì, chăm chỉ sẽ dẫn đến thành công.
[9] Sứ bộ: đoàn ngoại giao.
[10] Cái dậm, cái nhủi: dụng cụ đánh bắt cá bằng lưới, tre đan ghép.
[11] Lọng: dụng cụ giống như cái ô, nhưng lớn hơn, có trang trí nền.
[12] Chè lam: một loại bánh lương khô được làm từ ó bột gạo nếp, bột đỗ, đường và mật.
[13] Ứng xử linh hoạt: ứng với từng hoàn cảnh có cách xử sự thích hợp.
[14] Nghề thêu: nghề dùng chỉ màu, dùng kim khâu móc lên thành các hình trang trí đặt trên mặt vải quý như sa tanh, gấm, đoạn,…

Thử thách trong truyện

  1. Hồi còn nhỏ, cậu bé Trần Quốc Khái ham học ham làm như thế nào?
  2. Tại sao người thanh niên Khái lại bị phạt chôn chân trên đê? Vì sao Khái lại được tha cho về?
  3. Khi dẫn đầu đoàn chứ bộ đi sứ nhà Minh (Trung Quốc), Trần Quốc Khái đã ứng xử linh hoạt với những tình huống gì?
  4. Những năm cuối đời, Trần Quốc Khái đã có công gì với người dân địa phương?

Ông tổ nghề thêu Trần Quốc Khái

Trần Quốc Khái (1606 – 1661), người xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội. Ông làm quan dưới triều vua Lê Chân Tông (1643 – 1659), được cử đi sứ nhà Minh (Trung Quốc) năm 1646, từng chức Thượng thư bộ Công (trông coi ngành công nghệ trong nước), được đổi sang họ vua nên mới có tên là Lê Công Hành.

Ông được mọi người tôn là Ông tổ nghề thêu, hiện ở quê hương còn có đền thờ. Những câu chuyện về ông kể trên đã ít nhiều mang sắc thái dân gian hóa.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *